Phân tích bài Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh – Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn trường THPT Nguyễn Trãi, Hà Nội

Hồ Chí Minh bị bắt ngày 19 – 8 – 1942 tại phố Túc Vinh thuộc trấn Thiên Bảo, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Sau đó, chính quyền Tưởng Giới Thạch giải Người ngược trở lại phía biên giới để giam giữ tại nhà ngục huyện Tĩnh Tây ; đúng ngày quốc khánh Trung Hoa cũ (10-10), Hồ Chí Minh lai bị bắt giam Thiên Bảo ngục". Trên đoạn đường dưới 100 km từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo, Người phải đi bộ trong hai ngày. Tuy vậy, Hồ Chí Minh vẫn tức cảnh sinh tình, sáng tác ba bài thơ: “Tẩn lộ" (Đi đường); “Mộ” (Chiều tối); “Dụ túc Long Tuyền" (Đêm ngủ ở Long Tuyền); đó là chưa kể đến bài: “Sơ dáo Thiên Bản ngục” (Mới đên nhà lao Thiên Bảo). Trong các bài thơ sáng tác trên chặng đường này, bài “Mộ" được xem là áng thơ tuyệt bút.

Mộ

Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
(Hồ Chí Minh)

Bản dịch:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng

Qua vài nét chấm phá, hai câu đầu của bài thơ đã để lại một bức tiểu họa về cảnh thiên nhiên vùng sơn cước ở thời điểm “chiều tối". Những buổi chiều như vậy đâu có thiếu trong văn chương cổ kim ; nhưng nếu cảnh ấy qua cái nhìn của một Lý Bạch tiêu diêu, một Khuất Nguyên u uất chắc chắn sẽ đầy ảm đạm, thê lương. Còn ở đây, nếu không rõ xuất xứ, nhiều người sẽ lầm tưởng “Mộ” là bài thơ của thời thịnh Đường. Có người nhận xét cảnh thiên nhiên chiều tối trong bài "Mộ" có cái gì ấm áp, thậm chí có cả niềm vui nữa ở hình ảnh (chim bay vê tổ"', Vì nó sẽ được nghỉ ngơi trong tổ ấm của một vòm cây nào đó. “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ' khác với “Chim bay về tổ". Nhìn lên trời, Hổ Chí Minh nhận ra vẻ mệt mỏi, uể oải của cánh chim. Cái nhìn ấy thể hiện tình cảm nhân ái bao la của Người đối với cảnh vật. Cánh chim trong thơ Bác gợi nhớ cánh chim qua ánh mắt nàng Kiều trong thơ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du:           '

“Chim bay thoi thót về rừng”

Cánh chim trong thơ Vương Bột, Lý Bạch, Nguyễn Du….thường bay về chốn vô tận, vô cùng, vô định, gợi cảm giác xa xăm, phiêu bạt, chia lìa Ngược lại, cánh chim trong thơ Hồ Chí Minh là cánh chim đang tìm về với sự sống thường ngày. Nhờ vậy, mà nó có hồn và nhuốm đầy tâm trạng hơn.

Cùng với “Quyện điểu quy tâm” là “Cô vân mạn mạn". Bài thơ dịch khá uyển chuyển, nhưng đã làm mất đi vẻ lẻ loi, trôi nổi, lừng lờ của đám mây. Câu thơ dịch:.    .

“Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không" để khiến người đọc nghĩ đến cái nhìn của một du khách. Phải chăng, vì quá tin vào bản dịch mà ai đó nói cảnh thiên nhiên trong “chiều tối” là một cảnh vui. Hình ảnh “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ" — tìm một chỗ ngủ tạm qua đêm, và chòm mây lẻ loi, trôi lửng lờ gợi một khung cảnh thiên nhiên hoang vẳng nhưng không ảm đạm, đượm buồn nhưng không thê lương, rộng lớn mênh mông nhưng đâu có "xanh trong thi vị".. Cảnh ấy, tương đồng với tâm trạng của người bị giải, vẻ đẹp của bài thơ là ở chỗ: Tác giả không để lộ cái mệt mỏi, cô đơn của chính mình. Với Hồ Chí Minh, mọi nỗi buồn, niềm vui dường như đều gắn liền với dân tộc, nhân dân thà ít khi phụ thuộc vào cảnh ngộ riêng của Người.

Thơ tứ tuyệt thường bất ngờ ở cữu chuyển, bất ngờ mà vẫn phải tự nhiên, hợp lí, liền mạch. Nổi bật lên trên không gian chiều tối, sâu lắng, tĩnh lặng là hình ảnh con người:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

“Sơn thôn thiếu nữ' dịch là “Cô em xóm núi” đứng trên-binh diện nghĩa của từ thì không có gì sai. Nhưng câu thơ dịch đã không thể hiện được cái nhìn trân trọng của nhân vật trữ tình đối với con người ; giọng điệu trang trọng của câu thơ nguyên tác khônghiện diện trong lời thơ dịch (mà nhiều khi giọng điệu còn quan trọng hơn cả cái được miêu tả). Người phụ nữ đã nhiều lần có mặt trong thơ chữ Hán, nhưng phần lớn họ đều thuộc giới thượng lưu hoặc chí ít cũng gần gũi với giới thượng lưu. Không rõ trứớc Hồ Chí Minh đã có một “sơn thôn thiếu nữ" thực sự là người lao động bước vào thế giới của nàng thơ hay chưa? Chỉ biết rằng việc đặt hình ảnh “Sơn thôn thiếu  nữ' ở vị trí trung tâm của bức tranh phong cảnh chiều tối đã làm cho bức tranh thiên nhiên trở thành bức tranh về cuộc sống con người. Sự chuyển đổi ấy thể hiện một khuynh hướng vận động của hình tượng thơ và quan điểm nhân sinh của Bác. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh cũng gắn bó với cuộc sống con người nơi trần thế – đặc biệt là cuộc sống nhân dân lao động.

Về mặt nghệ thuật, ở hai câu thơ kết, người đọc thấy nhà thơ dường như không tả, ngòi bút của Người chi ghi nhận một cách khách quan "Những liền trông thấy" trong cảnh chiều tối. Điệp ngữ liên hoài “ma bao túc" nối liền dòng thơ thứ ba với dòng thơ kết đã góp phần diễn tả được cái vòng quay liên tục, đều đặn của động tác xay ngô. Điều đáng tiếc là bài thơ dịch đã không thể hiện đựợc điều ấy. Để cảm thụ giá tri liết diêu của câu thơ, không thể không tiếp xúc với phần phiên âm chữ Hán. Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc.Vòng quay của chiếc cối chấm dứt, công việc kết thúc (bao túc ma hoàn) thì lò than cũng vừa đỏ (lô (dĩ hồng), ánh lửa đỏ ấm nồng xuất hiện thật bất ngờ, tỏa sáng vào đêm tối. Tài hoa của Hồ Chí Minh là ở chỗ tả cảnh thiên nhiên, tả cả chiều tối mà người không phải dùng đến một tính từ chỉ thời gian nào. Người dùng ánh lửa đỏ để thể hiện thời gian đã tối (trời có tối, lò mới rực hổng). Hơn nữa người đọc còn cảm nhận được bước đi của thời gian từ chiều đến tối. Cố gái xay ngô từ khi trời còn ánh sáng ; xay xong thì trời đã tối. Phải chăng Hồ Chí Minh đã có một phát hiện mới trong bút pháp tả thời gian. Rõ ràng, ngay cả khi tả cảnh chiều tối, thơ Hồ Chí Minh vẫn có sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng, Người đọc cảm thấy không hài lòng khi dịch giả thêm vào câu chuyện một từ "tối". Nhìn bề ngoài việc thêm vào như vây có vẻ như vô thường,vô phạt; nhưng nghĩ sâu xa thì chính chữ ấy đã phá vỡ một quy luật vận động lớn trong thơ Hồ Chí Minh và không bộc lộ hết tài năng của Người, rất xứng đáng là thánh thứ hai mươi tám" của bài thơ. Trong “Ngục trụng nhật kí có bao nhiêu chữ "hồng” như vậy? Chữ “hồng", là nơi hội tụ kết tinh ánh sáng của toàn bài, là hình ảnh của sự sống thường nhật và niềm vui lao động.

Buổi chiểu tối rực ánh hồng ở bài "Mộ" là buổi chiều không dễ gì lặp lại lần thứ hai trong thơ, ánh hồng ấy không chỉ tỏa ra từ chiếc bếp lửa bình dị của một “sơn thôn thiếu nữ" mà chủ yếu được tỏa ra từ tấm lòng nhân ái, tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh. Niềm vui của chúng ta khi đọc “Mộ” nói riêng và thơ Bác nói chung là niềm vui của người được tiếp nhận ánh sáng của chất thép kì diệu thể hiện trong từng câu, từng chữ của bài thơ.

Phân tích bài Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh – Bài làm 2

“Nhật ký trong tù ” của Hồ Chí Minh được viết từ 2/8/1942 đến 10/9/1943 khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ, đầy đoạ khắp các nhà lao tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trong số 133 bài thơ “Nhật ký trong tù ” có một số bài ghi lại những thời khắc đáng nhớ trong ngày: Buổi sớm, Buổi trưa, Quá trưa, Chiều hôm, Chiều tối, Hoàng hôn, Nửa đêm… Mỗi bài là một nỗi niềm trong những tháng ngày “ác mộng”.

"Chiều tối” (Mộ) là bài thất ngôn tứ tuyệt số 31 trong “Nhật ký trong tù”. Bài thơ số 32 là bài “Đêm ngủ ở Long Tuyền". Vậy, bài “Chiều tối” ghi lại cảnh xóm núi lúc ngày tàn trên con đường từ Thiên Bảo đến Long Tuyền vào tháng 10/1942.

Đây là nguyên tác hài thơ:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,  

Cô vân mạn mụn độ thiên không,

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,    

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.        

Một cái nhìn man mác, một thoáng ươc mơ thầm kín về một mái ấm, một chỗ dừng chân…của nhà thơ trên con đường lưu đày khổ ải muôn dặm, được hé lộ qua bài thơ, đọc qua tưởng như chỉ tả cảnh chiều tối nơi xóm núi xa lạ.

Hai câu đâu tả bầu trời lúc ngày tàn. Hai nét vẽ “động” cánh chim mỏi mệt (quyện điểu) bay về rừng xa, tìm cây trú ẩn, một áng mây cô đơn, lẻ loi ( cô vân) đang lửng lơ trôi (mạn mạn). Câu trúc hai câu thơ đăng đối, âm điệu thơ nhẹ, thoáng buồn. Người chiến sĩ bị lưu đày ngước mắt nhìn bầu trời, dõi theo cánh chim bay và áng mây trôi nhẹ mà lòng man mác. Rất tinh tế, nét vẽ ngoại cảnh đã thoáng hiện tâm cảnh. Câu thơ dịch của Nam Trân tuy chưa thể hiện được chữ “cô ” trong “cô vân ” nhưng khá hay:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ        

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không”.

   Hai câu thơ 1,2 mang vẻ đẹp cổ điển: tả ít mà gợi nhiều chỉ 2 nét phác họa (chim bay, mây trôi) mà gợi lên cái hồn cảnh vật, ngày tàn, màn đêm buông xuống dần, tạo vật như đang chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi, mệt mỏi. Nghệ thuật lấy điểm vẽ điện, lấy động tả tĩnh được vận dụng sáng tạo. Nhìn chim bay, mây trôi mà cảm thấy bầu trời bao la hơn, cảnh chiều tối êm ả, tĩnh lặng hơn. Cảnh chiều tối ở xóm núi này còn mang tính ước lệ, nó mở rộng liên tưởng và cảm xúc thẩm mỹ trong tâm hồn mỗi chúng ta,…nhớ về một cánh chim bay trong “Truyện Kiều”: “Chim hôm thoi thót về rừng”; nhớ đến một cánh chim bay mỏi và hình ảnh người lữ thứ trong chiều sương lạnh nhớ nhà:

“Ngàn mai gió cuốn, chim bay mỏi    

Dặm liễu sương sa, khách bước dồn

(Chiều hôm nhớ nhà)                      

   Trở lại bài “Chiều tối”, áng mây cô đơn lẻ loi đang lơ lửng, trôi nhẹ trênbầu trời là hình ảnh ẩn dụ về người lưu đày trên con đường khổ ải xa lắc! Ngôn ngữ thơ hàm súc, biểu cảm, vừa tả cảnh vừa tả tình, thoáng nhẹ mà đầy ấn tượng, dư ba.

   Tiếp theo câu cuối 3-4 từ cảnh bầu trời tác giả nói về cuộc sống con người nơi núi. Thiếu nữ và lò than hồng là trung tâm của bức tranh này:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”.

   Một nét vẽ trẻ trung, bình dị, đáng yêu: Thiếu nữ xóm núi đang xay ngô. Ba chữ “ma bao túc” ở cuối câu ba được láy lại “bao túc ma hoàn…” ở đầu câu 4, động tác nhịp nhàng xay ngô, vừa diễn tả sự chuyển động vòng tròn của cái cối đá xay ngô thủ công. Đức tính cần mẫn của thiếu nữ xóm núi được cảm nhận và trân trọng. Nghệ thuật điệp ngữ liên hoàn đã làm cho thơ liền mạch và có về nhạc điệu. Câu thơ địch: “Cô em xóm núi xay ngô tối", với 2 chữ cô em đã làm lạc phong cách thơ Hồ Chí Minh; chữ “tối” thêm vào đã làm cho ý thơ lộ, còn đâu nữa ý tại ngôn ngoại trong bài thơ chữ Hán này?.

   Sự vật như nối liếp theo dòng chảy thời gian mà xuất hiện: Khi ngô xay xong than đã rực hồng, sáng bừng lên, vô cùng ấm áp. Khi màn đêm đã bao mịt mùng, lò than đỏ rực lên, cảnh vật ấy thu hút tâm trí người tù đang bị giải đi. Buồn biết bao cảnh bếp lạnh tro tàn! ấm áp biết bao một ngọn đèn, một bếp hồng trong đêm lạnh. Hình ảnh thiếu nữ xóm núi xay ngô và lò than rực hồng tượng trưng cho một mái ấm đoàn tụ gia đình, nó đã làm vợi đi bao nỗi cô đơn tĩnh mịch. Hướng về một cảnh sinh hoạt dân dã bình dị: thiếu nữ xay ngô, dõi nhìn bếp lửa, lò than rực hồng, khi chân tay mang nặng xiềng xích, bị giải đi trong chiều tối, Bác đã tìm thấy nơi nương lựa tâm hồn mình. Hình như nỗi cô đơn, lẻ loi, lạnh lẽo bị xua tan. Một thoáng ước mơ thầm kín về một mái ấm gia đình đã đến với nhà thơ trên con đường đi đày xa xứ trong màn đêm buông xuống. Cảm hứng thơ dào dạt chất nhân bản. Cái bình dị mà đầy chất thơ. Chất thơ ấy là hồn người và tình người. Hai nét vẽ về thiếu nữ xay ngô và lò than rực hồng là hai nét vẽ bình dị, ấm áp, khoẻ và trẻ trung, làm thơ Bác có sự hoà hợp giữa màu sắc cổ điển và chất hiện đại ưẻ trung bình dị.

   Nhiều bài thơ khác cho thấy trên con đường khổ ải, lưu đày người chiến sĩ cách mạng trong “Nhật ký trong tù” hầu như ít cảm thấy cô đơn, tâm hồn luôn luôn gắn bó với nhịp sống, làm chủ hoàn cảnh và lạc quan yêu đời. Trong cảnh hoàng hôn gió rét căm, vượt lên gian khổ. Người xúc động hướng tới một tiếng chuông chùa, một tiếng sáo mục đồng mà mạnh bước:

“Gió sắc tựa gươm mài đá núi,            

Rét như dùi nhọn chích cành cây        

Chùa xa chuông giục người nhanh bước,

Trẻ dẫn trâu về tiếng sáo bay”.            

Nam Trân dịch                              

Có lúc trong cảnh bị cùm trói “Thừa cơ rét rệp xônq vào đánh" mà Người vẫn “thoát ngục” tìm được một chút niềm vui nâng đỡ tâm hồn mình: “Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần" (Đêm ngủ ở Long Tuyền). Điều đó cho thấy,sự sống và tự do là khát vọng của Người. Thiên nhiên và con người hiện diện trong thơ Bác bằng những nét vẽ đẹp, bình dị. đáng yêu, đó là sự sống mà Bác gắn bó, mến yêu suốt đời.

“Chiều tôi” – một bài thơ đáng yêu: màu sắc cổ điển hàm súc kết hợp với tính chất trẻ trung, hiện đại, bình dị. Tứ thơ vận động từ cảnh đến tình, từ trong bóng  tối đến sự sống, đến ánh sáng và tương lai. Nét vẽ linh tế, thể hiện một hồn thơ "bát ngát tình”. Bài thơ thấm đượm một tình yêu mênh mông đối với tạo vật và con người. Trong đoạ đầy gian khổ, tâm hồn Bác vẫn dào dạt sự sống.

Phân tích bài Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh – Bài làm 3

Cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng trong bài viết Hồ Chủ tịch – hình ảnh của dân tộc có nói đại ý: Hồ Chủ tịch là Người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm mà Người mới đi làm cách mạng. Trong thế giới tình cảm bao la của Người dành cho nhân dân, cho các cháu nhỏ, cho bầu bạn gần xa, hẳn có một chỗ dành cho tình cảm gia đình.

Bài Chiều tối có lẽ hé mở cho ta nhìn thấy một thoáng ước mơ thầm kín về một mái nhà ấm, một chỗ dừng chân trên con đường dài muôn dặm…

Chiều tối là bài thơ thứ ba mươi mốt trong tập Nhật kí trong tù, ghi lại cảm xúc của nhà thơ trên đường bị giải đi qua hết nhà lao này đến nhà lao khác. Trên con đường khổ ải ấy, một chiều kia, Người chợt nhận thấy cánh chim chiều.

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Loading...

Câu thơ không giản đơn chỉ ghi lại cảnh vật mà còn bộc lộ mối tình cảm của nhà thơ. Làm sao biết rõ được là chim đang mỏi, và làm sao nói chắc được mục đích của chim là về rừng tìm chốn ngủ, như thể ở trong lòng chim mà ra? Câu thơ chỉ là tín hiệu cho thấy là trời đã chiều, mọi vật hoạt động ban ngày đã mỏi mệt, đã đến lúc tìm chốn nghỉ ngơi. Câu thơ tương phản với hình ảnh chòm mây cô đơn ở dưới.

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.

Câu thơ dịch tuy đẹp nhưng ý thơ có phần nhẹ hơn so với nguyên tắc chữ Hán. Nó bỏ mất chữ cô trong cô vân, nghĩa là chòm mây cô đơn, trơ trọi rất có ý nghĩa. Hai từ trôi nhẹ cũng không lột tả được ý của mấy chữ mạn mạn độ. Bởi vìđộ là hoạt động nhằm đi từ bờ này sang bộ kia, ví như độ thuyền đi từ thuyền sang sông, độ nhật ở cho qua ngày, độ thiên không là chuyển dịch từ chân trời này sang chân trời kia, con đường của mây mới xa vời và vô hạn biết chừng nào!

Còn mạn mạn là dáng vẻ trì hoãn, chậm chạp. Chòm mây cô đơn đi từ chân trời này sang chân trời kia, mà lại còn chậm chạp, trì hoãn nữa thì không biết bao giờ mới tới nơi? Và hiển nhiên khi trời tối nó vẫn còn lửng lơ bay giữa tầng không là hình ảnh ẩn dụ về người tù đang bị giải đi trên đường xa vạn dặm, chưa biết đây là điểm dừng! Trong hình ảnh ấy hẳn còn gửi gắm tình cảm thương mình cô đơn sốt ruột và khao khát có một mái nhà. Chỉ hai câu thơ mà vừa tả cảnh, vừa tả người, tả tình người. Đó là cái hàm súc, dư ba của thơ cổ điển.

Nếu hai dòng đầu đã nói tới chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ và chòm mây cô đơn chưa biết dừng nơi nào, thì hai câu thơ của bài thơ sau hiện diện một chốn ngủ của con người:

Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng.

Trong bản dịch, người dịch đã đưa vào chữ tối lộ liễu trong khi thi pháp thơ cổ chỉ muốn người đọc tự cảm thấy chiều tối phủ xuống mà không cần một sự thông báo trực tiếp nào. Điều đó làm lộ tứ thơ. Nhưng đó là cái khó của người dịch.

Điều đáng chú ý là một cảnh lao động gia đình, rất đỗi bình thường, dân dã: Cô em xóm núi xay ngô hạt, ngô hạt xay xong, bếp đã hồng. Cô em, bếp lửa tượng trưng cho cảnh gia đình. Ngô hạt xay xong, bếp đỏ hồng lại, tượng trưng cho công việc và nghỉ ngơi. Một không khí ấm cúng đối với người lữ thứ.

Điều đáng chú ý thứ hai là trong nguyên tác chữ hồng là ấm, nóng chứ không phải là màu đỏ, càng chứng tỏ điều nhà thơ nghĩ đến là sức ấm nóng, chứ không phải là ánh sáng hồng. Bếp lạnh, tro tàn là tượng trưng cho sự cô quạnh, lẻ loi.

Điều đáng chú ý thứ ba là nhà thơ đứng ở núi như thế, y như thể đứng gần gũi bên cạnh. Lại nữa, nhà thơ phải đứng rất lâu mới thấy được cảnh thời gian trôi trong câu: Cô em xóm núi xay ngô hạt – Ngô hạt xay xong bếp đã hồng. Đây chỉ là bài thơ trên đường. Vậy, đó chỉ là cảnh tưởng tượng trong tâm tưởng, trước xóm núi bên đường, xuất hiện như là biểu trưng của mái ấm gia đình, nơi đoàn tụ của những người thân thuộc. Cái này tuy không sáng bừng lên màu hồng lạc quan của cách mạng như ai đó hiểu, cũng vẫn ấm áp tình người, làm cho nỗi lòng người đi vơi bớt nỗi cô đơn, tĩnh mịch. Cùng với hình ảnh ấy, một ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình thấp thoáng đâu đó. Nếu ta chú ý tới bài thơ trước bài này là bài Đi đường:

Đi đường mới biết gian lao
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.

Một con đường vô tận, và bài sau đó là bài Đêm ngủ ở Long Tuyền, Đôi ngựa ngày đi chẳng nghỉ chân, món Gà năm vị: tối thường ăn; thừa cỏ rét, rệp xông vào đánh, oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần. Thì ta sẽ thấy sự xuất hiện của khung cảnh gia đình kia là rất dễ hiểu. Nó chứng tỏ trái tim của nhà cách mạng vẫn đập theo những nhịp của con người bình thường gần gũi với mọi người.

Nghệ thuật của bài thơ là một nghệ thuật gián tiếp cổ điển, nói cảnh để nói tình. Hình ảnh trong thơ cũng là tâm cảnh. Nếu chỉ phân tích nó như một bức tranh hiện thực đơn giản, chắc chắn ta sẽ rời xa thế giới nội tâm phong phú của nhà thơ.

Phân tích bài Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh – Bài làm 4

Hồ Chí Minh là một cái tên mà tất cả con dân Việt Nam đều ghi tạc trong tim với một lòng yêu quý, kính trọng vô bờ bến. Trong quá trình tìm lại tự do cho dân tộc, Bác đã phải chịu rất nhiều khổ cực, gian khó, đã rất nhiều lần bị bắt giam, chuyển từ nhà tù này sang nhà tù khác, bị đánh đập, tra tấn dã man. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn ấy, ở Người vẫn ánh lên một tinh thần lạc quan, một niềm tin vào một ngày mai tươi sáng. Bài thơ “Chiều tối” nằm trong tập thơ “Nhật kí trong tù” đã thể hiện được phần nào tinh thần ấy của Người. Bài thơ chỉ đơn giản là tả lại cảnh nơi thôn dã vào một buổi chiều tối, thế nhưng ẩn chứa trong đó là một ước mơ tự do cho bản thân, ước mơ được quay trở lại quê hương để tiếp tục sứ mệnh của mình.

Bài thơ được sáng tác khi Bác bị giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bức tranh chiều tối được nhìn qua cặp mắt của người tù tay đeo gông chân vướng xiềng:
“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không.”

Dịch thơ:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.”

Buổi chiều thường là lúc đoàn tụ, nhưng cũng là khi con người ta thấy vô cùng cô đơn nếu không có một chốn để  về. Cánh chim mỏi sau một ngày kiếm ăn cũng đã bay về tổ của mình. Trên không trung chỉ còn lững lờ một chòm mây. Giữa thiên nhiên bao la hùng vĩ, con người và cảnh vật đều như dừng lại, chỉ có chòm mây ấy vẫn nhẹ nhàng trôi, càng làm nổi bật lên sự yên ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi. Chòm mây ấy cũng giống như Bác, đang trong tình cảnh tù tội, vẫn phải cô độc bước đi. Chòm mây cô đơn, lặng lẽ, Bác cũng lặng lẽ, cô đơn. Tuy thế, phải là một người có lòng yêu thiên nhiên, phải có một tâm thái ung dung, bình tĩnh, lạc quan, vượt lên mọi gông cùm về thể xác để ngắm thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên như thế. Thân xác mỏi rã rời vì phải đi cả ngày đường vất vả, nhưng Bác vẫn dõi mắt theo cánh chim về tổ, tầng mây lững lờ trôi lúc chiều về.

Tuy chỉ hai câu thơ bảy chữ, nhưng cũng đã khiến cho người đọc tưởng tượng ra được cảnh chiều muộn nơi rùng núi thật mênh mông, âm u, vắng vẻ, quạnh quẽ. Đồng thời, cũng nói lên niềm mong ước quay trở về với quê hương, ước mong được tự do như đám mây kia.

Trong khung cảnh thiên nhiên mênh mông, đượm nét buồn lúc chiều muộn nơi rừng núi, bỗng xuất hiện con người:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”

Dịch thơ:

“Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết, lò than đã rực hồng.”

Giữa cảnh buồn của thiên nhiên như trong thơ cổ, cô sơn nữ hiện lên như  một điểm sáng, làm cho cả bức tranh trở nên sinh động, vui tươi hơn. Đó chính là nét cố điển mà hiện đại trong thơ của Hồ Chí Minh. Bức tranh vừa có người, vừa có hoạt động khỏe khoắn của con người trong đó. Đó chính là nét đẹp, nét đáng quý của người dân lao động. Cô gái đang miệt mài xay ngô bên lò than rực hồng để chuẩn bị bữa tối. Ở đây, bản dịch thơ không đảm bảo được nghệ thuật của bản chữ Hán. Bác đã lặp lại hai chữ “bao túc” ở cuối câu thứ ba và đầu câu thứ tư, như những vòng xay nối tiếp nhau của cô gái, như sự tuần hoàn của thời gian, trời đã tối, tối dần. Bức tranh vừa ấm áp bởi cảnh tượng lao động khỏe khoắn của người thôn nữ lao động, vừa bởi cái ánh hồng của bếp lò. Đó chỉ là một thứ hạnh phúc bình dị, vậy mà Bác vẫn gạt bỏ hết những đau đớn, mệt mỏi về thân xác để cảm nhận được.

Nhà văn Nam Cao đã viết: “Khi người ta đau chân, người ta không còn tâm trí đâu để nghĩ đến người khác được.”, để nói rằng, con người ta thường có xu hướng lo cho những đau khổ của bản thân. Thế nhưng, ở Bác Hồ – một người lúc nào cũng lo nỗi lo của dân tộc, của đất nước – vậy mà cũng vẫn luôn quan tâm đến những thứ nhỏ nhặt nhất, bình dị nhất. Đó chính là nhân cách cao đẹp của vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta.

Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ tiêu biểu cho nét đẹp cổ điển và hiện đại trong thơ Hồ Chí Minh. Bài thơ chỉ đơn giản là tả về phong cảnh thiên nhiên và con người nơi xóm núi khi chiều muộn, đồng thời, cũng ẩn chứa trong đó nỗi niềm ước mong được tự do, được sum họp của Người. Đồng thời, ở Bác, chúng ta vẫn luôn thấy ánh lên một vẻ đẹp của tinh thần quên mình, của một trái tim giàu lòng yêu thương luôn biết quan tâm đến những điều bình dị nhất.

Phân tích bài Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh – Bài làm 5

Bài thơ “Mộ” được rút ra trong tập “Ngục trung nhật kí” – tập thơ được chủ tịch Hồ Chí Minh bị bắt và bị giam ở Trung Quốc. Bài thơ ra đời trong thời điểm chiều tối, người thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh sau một ngày dài chuyển lao gian lao vất vả nhưng chưa được nghỉ ngơi, những đọa đầy ban ngày chưa qua thì những đọa đầy ban đêm lại sắp tới nhưng cả bài thơ lại không có bất cứ một từ ngữ, một hình ảnh nào mệt mỏi chỉ có một khung cảnh thiên nhiên thanh bình, êm ả và một hồn thơ ung dung thư thái.

“Quyển điểu phi lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn lộ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”     

Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên chiều tối:

“Quyển điểu phi lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn lộ thiên không”    

Tác giả đã tập trung miêu tả hai hình ảnh quen thuộc với thơ ca truyền thống: cánh chim và chòm mây. Hình ảnh cánh chim bay về rừng là một bức tranh quen thuộc trong thơ truyền thống và cả thơ ca dân gian. Điều này ta có thể thấy qua các câu ca dao: “Chim hôm về núi tối rồi” hay trong “truyện Kiều”: “Chim hôm thoi thóp về rừng”. nếu như trong ca dao hình ảnh cánh chim chỉ đơn thuần là được miêu tả trong tư thế động “về núi”, trong câu thơ của Nguyễn Du cánh chim đã mang theo tâm trạng của con người với bao phấp phỏng, lo âu trông chờ vào sự may rủi “thoi thóp” thì  ở câu thơ của Hồ Chí Minh, “chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ” hình ảnh cánh chim không đơn thuần là sự vận động bên ngoài cũng không chỉ mang tâm trạng buồn đau của nhân vật trữ tình mà là một sự cảm nhận rất sâu bên trong của sự vật. Nó cho ta thấy cả hành trình một ngày dài bay đi kiếm mồi, lúc này chim đã có một sự mệt mỏi, đó là một trạng thái bình thường của cơ thể sau khi vận động. Nhìn sâu vào hình ảnh cánh chim ta nhận ra sự tương đồng giữa sự vật và con người: cánh chim mỏi sau một ngày bay đi kiếm mồi còn con người mệt mỏi sau một ngày lê bước trên đường chuyển lao.trong ý thơ đã bộc lộ sự hòa hợp cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên mà cội nguồn của sự cảm thông ấy là tình yêu mênh mông, sự nhạy cảm tinh tế của Bác dành cho mọi sự sống trên đời. Bên cạnh hình ảnh cánh chim, hình ảnh chòm mây cũng là hình ảnh rất ấn tượng. đó là hình ảnh một chòm mây cô lẻ “cô vân” đang trôi lững lờ “mạn mạn” giữa tầng không. Câu thơ này ở phần dịch thơ, người dịch chưa bộc lộ hết ý nghĩa của phần phiên âm: chữ “cô” chưa được diễn tả và hai chữ “mạn mạn” lại  được dịch thành trôi nhẹ, ít nhiều đã làm giảm đi sắc thái biểu cảm của hình ảnh. Hình ảnh chòm mây gợi cho ta nhớ đến thơ Thôi Hiệu: “Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bây” (Hoàng Hạc Lâu) và thơ Nguyễn Khuyến “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”. Trong thơ Thôi Hiệu, hình ảnh chòm mây gợi quá khứ và sự vĩnh hằng còn thơ Nguyễn Khuyến lại gợi lên sự tĩnh lặng, ngưng đọng, thanh khiết. Nhưng đến thơ của Hồ Chí Minh, hình ảnh chòm mây lại là hình ảnh quen thuộc, đời thường, gợi lên sự cao rộng,êm ả, trong trẻo của buổi chiều thu. Qua đó ta thấy được một tâm hồn ung dung, thư tái cảm nhận được tầng mây cũng mang tâm trạng con người cô đơn, lẻ loi nhưng thanh thản, tự tại. Chòm mây ấy đang lững lờ, chầm chậm trôi như mang theo lỗi buồn lặng lẽ trong cảnh chia lìa vì cánh chim đang bay về rừng để lại chòm mây một mình bay lưng trời.

Nếu như hai câu thơ đầu là bức tranh thiên nhiên thì hai câu thơ sau là một bức tranh quen thuộc, hết sức bình dị về cuộc sống, sinh hoạt của người dân địa phương ven núi mà trung tâm của bức tranh ấy là người con gái trong lao động (xay ngô) và lò than rực hồng. Ngòi bút miêu tả của thi nhân đã chuyển từ quan sát cảnh ( cao, xa) đến cận cảnh (thấp, gần) và gắn với hình ảnh cuộc sống con người lao động nghèo. Hình ảnh cô gái xay ngô vừa gợi lên nét đẹp tươi trẻ, khỏe mạnh, vừa gợi lên nét đẹp dung dị của cuộc sống đời thường. Hình ảnh cô gái trong bài thơ khác với hình ảnh con người trong thơ cổ điển ( ngư tiều canh mục). Trong thơ cổ, hình ảnh con người chỉ làm tăng thêm cái hùng vĩ, hoang sơ của thiên nhiên mà thôi. Còn hình ảnh con nguồi trong thơ của Bác lại toát lên vẻ trẻ trung, sống động giữa cảnh núi rừng chiều tối âm u, heo hút. Chính vì thế, hình ảnh cô gái lao động đã mang lại hơi ấm, sự sống và niềm vui. ở câu thơ thứ ba có một điều cần lưu ý đó là trong bản dịch thơ, người dịch đã dịch thừa một chữ “tối”. Điều này đã làm mất đi tính hàm xúc, cô đọng trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh bởi vì Bác không cần dùng chứ tối nhưng cũng vẫn gợi được hình ảnh bóng tối đã bao trùm lên không gian, cảnh vật qua hình ảnh lò than đã rực hồng. tác giả đã dùng biện pháp đối lập, lấy ánh sáng để miêu tả bóng tối tạo nên sự vận động của hình tượng nghệ thuật, chứng minh rằng trong thơ của Bác luôn huống tới sự sống và ánh sáng.

Hình ảnh xay ngô được tác giả nhắc đến ở cuối câu thơ thứ ba và lặp lại ở đầu câu thơ thứ tư đã gợi lên vòng xoay liên hoàn của chiếc cối xay, đồng thời cũng gợi lên sự vận động trôi chảy của thời gian: từ lúc chiều tối đến khi tối hẳn. Có người cho rằng hình ảnh lò than rực hồng chính là nhãn tự của bài thơ. Điều đó cũng thật có lý vì hình ảnh này gợi lên sự ấm áp, rực sáng giữa không gian lạnh lẽo, vắng lặng  của một chiều thu nơi núi rừng. hơn nữa, hình ảnh lò than gắn với hình ảnh sinh hoạt của con nguồi, vì thế cùng với hình ảnh cô gái, hình ảnh lò than đã trở thành trung tâm của bức tranh, tạo nên nét mới, nét hiện đại trong bức tranh giàu yếu tố cổ điển của Hồ Chí Minh.             

“Mộ” – một bài thơ mang màu sắc cổ điển hàm súc kết hợp với tính chất trẻ trung, hiện đại, bình dị. Tứ thơ vận động từ cảnh đến tình, từ trong bóng  tối đến sự sống, đến ánh sáng và tương lai. Nét vẽ linh tế, thể hiện một hồn thơ "bát ngát tình”. Bài thơ thấm đượm một tình yêu mênh mông đối với tạo vật và con người. Trong đọa đầy gian khổ, tâm hồn Bác vẫn dào dạt sự sống.

Dánh giá bài viết
Loading...

Từ khóa từ Google:

  • cảm nhận bài thơ chiều tối giànhs cho học sinhs giỏi
  • chieu toi bai van hoc sinh gioi
  • phân tích bài chiều tối
  • phan tich bai tho chieu toi cua hoc sinh gioi
  • phân tích chiều tối hoc sinh gioi
  • phân tích chiều tối hsg